PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN NHIỆM

PTR cam kết luôn tuân thủ và hướng tới sự Độc lập và Khách quan, Minh bạch và Chính trực trong hệ thống Quy trình nghiệp vụ và hệ thống Kiểm soát nội bộ chặt chẽ, hiệu quả trong hoạt động Xếp hạng tín nhiệm.

 

PTR cung cấp Phương pháp luận và Quy trình nghiệp vụ mà tất cả các Nhà Phân tích và thành viên Hội đồng Xếp hạng được yêu cầu phải thực hiện trong việc đưa ra quyết định kết quả Xếp hạng tín nhiệm.

 

Phương pháp luận Xếp hạng tín nhiệm PTR được nghiên cứu, vận dụng và ban hành áp dụng dựa trên cơ sở nền tảng kiến thức, thông lệ hoạt động và chuẩn mực chuyên môn của 3 Tổ chức Xếp hạng tín nhiệm quốc tế (Big three CRAs) và tuân thủ quy định của Pháp luật Việt Nam hiện hành.

 

PTR xây dựng, ban hành và áp dụng thực hiện phương pháp Xếp hạng tín nhiệm có hệ thống và thống nhất cho từng loại nghĩa vụ nợ và từng ngành nghề của các tổ chức tài chính, doanh nghiệp và Công cụ nợ mà PTR cung cấp dịch vụ Xếp hạng cho các tổ chức khách hàng.

 

PTR xác lập những nguyên tắc cơ bản về phân tích tín dụng doanh nghiệp, trên cơ sở nền tảng chung và chia nhiệm vụ thành các hạng mục nghiên cứu, phân tích và đánh giá các yếu tố định tính và định lượng, để tất cả các nhân tố tác động có tính chất trọng yếu nhất đều phải được xem xét một cách khách quan, cẩn trọng và đầy đủ. Điều quan trọng là các nhà phân tích phải luôn tuân thủ các nguyên tắc phân tích đánh giá cơ bản.

 

Mọi ý kiến về mức độ tín nhiệm PTR đưa ra đều được phân tích dựa trên các khía cạnh ảnh hưởng trọng yếu tới khả năng doanh nghiệp thực hiện đầy đủ và đúng hạn nghĩa vụ nợ. Đồng thời, quá trình phân tích luôn cân nhắc sự khác biệt giữa các doanh nghiệp để xác định mức độ ảnh hưởng khác nhau của từng yếu tố tới mỗi doanh nghiệp. Nhờ vậy, các đánh giá phù hợp sẽ được đưa ra thông qua việc kết hợp các yếu tố định tính và định lượng một cách khách quan nhất.

 

Phương pháp Xếp hạng tín nhiệm PTR được nghiên cứu, xây dựng và áp dụng thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ và đảm bảo yêu cầu là phải đánh giá được các yếu tố rủi ro cơ bản và mức độ ảnh hưởng đến khả năng thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ nợ của tổ chức được xếp hạng tín nhiệm (Tổ chức tài chính, Doanh nghiệp và Công cụ nợ).

 

Phương pháp Xếp hạng tín nhiệm, bao gồm cả phương pháp đánh giá định tính và phương pháp đánh giá định lượng, với các nội dung cơ bản: rủi ro vĩ mô, rủi ro cạnh tranh ngành, rủi ro thị trường, rủi ro chiến lược, rủi ro quản trị, rủi ro chiến lược, rủi ro nhân sự, rủi ro tài chính và các rủi ro khác theo đánh giá của PTR. Đây là một khung tiêu chuẩn cho phép đánh giá có hệ thống và toàn diện khả năng của doanh nghiệp về đáp ứng các nghĩa vụ tài chính của mình một cách kịp thời và đầy đủ.

 

Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp bắt đầu với môi trường kinh tế vĩ mô (rủi ro vĩ mô) và môi trường kinh doanh (rủi ro cạnh tranh ngành) để xem xét tất cả các yếu tố ảnh hưởng; sau đó xem xét đánh giá đầy đủ hiệu quả hoạt động và tài chính, và do đó cuối cùng là sức mạnh tín dụng của doanh nghiệp. Khung phân tích đi từ tổng quát đến cụ thể hơn, bao gồm các đánh giá rủi ro liên quan đến yếu tố tác động vĩ mô; hoạt động ngành và môi trường cạnh tranh của tổ chức; ảnh hưởng của các yếu tố quản lý và rủi ro tài chính.

PTR xác định “Rủi ro Quốc gia” theo phạm vi rộng, bao gồm các đánh giá về tình trạng kinh tế, hệ thống chính trị, hệ thống tài chính và rủi ro pháp lý phát sinh từ việc kinh doanh tại một quốc gia cụ thể và ảnh hưởng đến chất lượng tín nhiệm của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

 

Rủi ro tín nhiệm của từng doanh nghiệp được xếp hạng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố rủi ro quốc gia theo từng mức độ khác nhau. Rủi ro quốc gia, theo tiêu chí này là rủi ro mà một doanh nghiệp phải đối mặt khi có một số hoạt động hoặc tài sản của mình được đặt tại một hoặc nhiều quốc gia.

 

Phân tích đánh giá các rủi ro liên quan đến quốc gia, cần đặc biệt chú trọng ảnh hưởng của hệ thống pháp luật, chính sách và quy tắc hướng dẫn do quốc gia đặt ra tác động lên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sự hỗ trợ (hoặc không) từ hệ thống chính trị, pháp lý và tài chính; cơ sở hạ tầng và tài nguyên thiên nhiên và các chính sách kinh tế vĩ mô.

 

Mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng tác động và hình thành lên hoạt động của các doanh nghiệp trong từng quốc gia. Sự kết hợp của những đặc điểm đặc thù và quy tắc kinh doanh được thiết lập của quốc gia ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Cuối cùng, mức độ thành công hay thất bại của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào tác động ảnh hưởng của các nguồn lực quốc gia được sử dụng, đồng thời vào hệ thống các chính sách quản lý vĩ mô.

Rủi ro vĩ mô thiết lập một khuôn khổ cho môi trường kinh doanh – các quy tắc tham gia. Rủi ro ngành là những động lực được xây dựng cho một ngành công nghiệp; chúng khác biệt với từng loại hình ngành công nghiệp, sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp. Tất cả các doanh nghiệp tham gia ngành đều phải đối mặt với những rủi ro vốn có của ngành. Những rủi ro này có thể ảnh hưởng tác động đến từng doanh nghiệp ở mức độ khác nhau. Vì thế, việc xác định ảnh hưởng tác động tiềm tàng của từng rủi ro đối với tín dụng là rất quan trọng.

 

Đánh giá rủi ro hoạt động kinh tế ngành, PTR chủ yếu tập trung vào “Chu kỳ kinh doanh” và “Rủi ro cạnh tranh và tăng tưởng”.

 

Yếu tố Chu kỳ kinh doanh được điều chỉnh thông qua đánh giá tình huống giả định (hypothetical stress scenarios).

 

Yếu tố rủi ro cạnh tranh và rủi ro tăng trưởng được đánh giá thông qua các thành phần, bao gồm:

 

  • Tính hiệu quả của các rào cản gia nhập ngành.
  • Xu hướng biên lợi nhuận ngành.
  • Rủi ro thay thế và các sản phẩm, dịch vụ thay thế, công nghệ mới.
  • Rủi ro trong tăng trưởng.

 

Phân tích đánh giá những cách thức mà đặc điểm ngành ảnh hưởng đến hồ sơ Xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp. Phân tích cách ngành công nghiệp cụ thể tác động dẫn đến vấn đề của từng doanh nghiệp riêng lẻ và cách các sự kiện tại một doanh nghiệp cụ thể có thể ảnh hưởng đến đối thủ cạnh tranh và toàn bộ ngành.

 

Rủi ro ngành được hiểu là các tác động ảnh hưởng đến triển vọng kinh doanh và doanh thu, thị phần hoặc giảm sút tài chính nói chung do thay đổi ngành, chu kỳ kinh doanh, lỗi thời sản phẩm, thay đổi sở thích của người tiêu dùng, thay đổi công nghệ, giảm rào cản gia nhập ngành hoặc tăng trong cạnh tranh, chu kỳ kinh doanh và tính thời vụ và nguy cơ ngành có thể hạn chế chất lượng tín dụng của doanh nghiệp.

Tại thời điểm này của quá trình phân tích, PTR đã thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia và các tác động biến động vốn có trong ngành công nghiệp liên quan. Dựa trên kiến thức cơ bản này, bước tiếp theo của các nhà phân tích là đi sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để hiểu cách nó tạo ra nguồn tiền sẽ như thế nào, và do đó doanh nghiệp có khả năng hoàn trả nghĩa vụ tài chính của mình đáng tin cậy như thế nào. Sau đó, kết quả cuối cùng của phân tích rủi ro kinh doanh phải là quyết định về sự biến động của một doanh nghiệp.

 

Cạnh tranh có thể dựa trên giá cả, chất lượng sản phẩm, khả năng phân phối, hình ảnh, sự khác biệt sản phẩm, dịch vụ hoặc 1 số yếu tố khác.

 

Rủi ro kinh doanh có thể được định nghĩa là tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất tài chính và ảnh hưởng đến chiến lược cụ thể mà doanh nghiệp thực thi.

 

Các Nhà phân tích PTR có thể xác định cho các yếu tố chính để tập trung vào cho doanh nghiệp và cuối cùng thu hẹp các vấn đề quan trọng nhất. Phân tích đối thủ cạnh tranh và vị thế cạnh tranh của một tổ chức là rất quan trọng.

 

Phân tích cạnh tranh, về bản chất, so sánh một doanh nghiệp với doanh nghiệp khác. Xác định các yếu tố chính mà một công ty cạnh tranh là bước đầu tiên quan trọng.

 

Tất cả các ngành công nghiệp có nhiều chìa khóa để thành công và các yếu tố cạnh tranh quan trọng. Xác định các chìa khóa quan trọng để chiến thắng trên thương trường, các nhà phân tích PTR tập trung không chỉ vào các yếu tố cạnh tranh chính, mà quan trọng nhất là các yếu tố cơ bản ảnh hưởng và cuối cùng xác định người chiến thắng và người thua cuộc.
Ví dụ, nếu một ngành công nghiệp được xác định là có tính cạnh tranh cao, một đánh giá cẩn thận về vị trí thị trường của doanh nghiệp sẽ là một trong những công việc trọng tâm.

 

Trường hợp khác, giả sử doanh nghiệp cạnh tranh về giá, yếu tố cơ bản sẽ là chi phí. Có nhiều cách để so sánh đối thủ cạnh tranh. Điều quan trọng là phải toàn diện. Khi so sánh chi phí, PTR tập trung phân tích về toàn bộ hoạt động doanh nghiệp. Nói cách khác, các Nhà phân tích PTR đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp bằng cách tìm kiếm thông tin trong mọi hoạt động và ở mọi góc độ chuyên môn.

Vai trò Quản trị (các yếu tố quản lý) là rất quan trọng với hiệu suất hoạt động của một doanh nghiệp. Tầm quan trọng của các yếu tố quản lý, trong việc ra quyết định và cách thức tổ chức thực hiện, bao gồm chiến lược, quản trị tổ chức, thị trường, nhân sự và các triết lý tài chính và chính sách tài chính.

 

Quản trị doanh nghiệp hoặc cách thức quản lý, là một lĩnh vực quan trọng đối với quy trình phân tích đánh giá. Quản lý với tính toàn vẹn cao liên quan đến đạo đức kinh doanh, hệ thống kiểm soát nội bộ, văn hóa doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh và giá trị mang lại cho Cổ đông, chủ nợ, nhân viên, đối tác kinh doanh và khách hàng. Nhưng phân tích quản trị doanh nghiệp không chỉ là xác định tính toàn vẹn của quản lý; điều quan trọng nhất là phải theo dõi những thách thức khó khăn có tính cấp thiết của tổ chức mà các nhà quản lý phải đương đầu giải quyết.

 

Trong nghiệp vụ Xếp hạng tín nhiệm, mặc dù đánh giá ảnh hưởng rủi ro quốc gia, môi trường kinh doanh, cạnh tranh ngành có ý nghĩa quan trọng. Bên cạnh đó, sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào yếu tố quản lý để tạo ra hiệu suất hoạt động và tài chính tốt nhất. Đó là một thách thức khó khăn cho một đội ngũ quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là xem xét rằng nó đang cạnh tranh với các nhà quản lý khác với những thách thức tương tự. Một phân tích khách quan dựa trên hồ sơ theo dõi của Ban quản lý của doanh nghiệp là rất quan trọng đối với quyết định tín dụng.

 

Tại thời điểm này, các nhà phân tích sẽ hoàn thành việc đánh giá định tính của doanh nghiệp với tất cả các rủi ro có thể có. Tác động tích lũy của yếu tố về các rủi ro quốc gia, rủi ro ngành, rủi ro kinh doanh và rủi ro quản lý được thu thập, tổng hợp và phân tích đánh giá. Đến thời điểm này, các Nhà phân tích PTR bước đầu cơ bản đã thiết lập được ý kiến đánh giá về mức độ rủi ro của doanh nghiệp: rủi ro cao, rủi ro trung bình hoặc rủi ro thấp hay không. Nghiệp vụ phân tích này rất quan trọng nhưng vẫn chưa hoàn thành quy trình đánh giá rủi ro tổng thể của doanh nghiệp.

 

Bước tiếp theo của các Nhà Phân tích là cần phải đánh giá hiệu suất và hồ sơ tài chính của tổ chức. Để có kết quả cuối cùng của một đánh giá tín nhiệm chất lượng và khách quan là cần phải phân tích đánh giá cẩn trọng về hiệu quả tài chính doanh nghiệp. Trên thực tế, một đánh giá tín dụng có chất lượng về hiệu quả tài chính và hồ sơ của một doanh nghiệp không thể và không nên được thực hiện nếu không có sự hiểu biết về mức độ rủi ro định tính vốn có trong doanh nghiệp.

Phân tích rủi ro tài chính hỗ trợ phân tích rủi ro kinh doanh trên một số khía cạnh. Vấn đề này chứng minh giá trị và chất lượng của một doanh nghiệp và chứng thực tốc độ tăng trưởng dự kiến. Điều này có thể giúp mô tả động cơ hành động của Ban quản lý thành công và xác định mức độ khả năng tài chính của doanh nghiệp có thể chịu đựng được trước tác động của những cú sốc trong môi trường cạnh tranh. Cuối cùng, nó giải thích khả năng thanh toán nghĩa vụ của một doanh nghiệp.

 

Nhiệm vụ trước tiên của các nhà phân tích là đánh giá các rủi ro định tính vốn có trong doanh nghiệp nhằm định hình bức tranh tổng thể về sự biến động của doanh nghiệp. Các nhà phân tích PTR sẽ chú trọng đến mối tương quan mức độ biến động của doanh nghiệp với hồ sơ tài chính và hiệu quả của tổ chức.

 

Trọng tâm chính của các nhà phân tích PTR là đánh giá khả năng hoàn trả nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp. Vì thế, cần cân nhắc tất cả các khía cạnh về tài chính nhằm xác định khả năng tín dụng của doanh nghiệp để hoàn trả nghĩa vụ nợ đúng hạn và đầy đủ.

 

Để đánh giá yếu tố rủi ro tài chính, các nhà phân tích cần kết hợp đánh giá các tỷ suất tín dụng (chủ yếu dựa vào dòng tiền). Các tỷ suất tín dụng được đánh giá sẽ bổ sung cho nhau thông qua việc tập trung vào các cấp độ khác nhau của dòng tiền liên quan đến các nghĩa vụ chi trả của doanh nghiệp.

 

Tỷ suất tín dụng của công ty có thể khác nhau rất lớn theo thời gian do điều kiện kinh tế, yếu tố cạnh tranh, thay đổi công nghệ hoặc chu kỳ đầu tư, chu kỳ kinh tế của công ty và các hoạt động của công ty hoặc do chiến lược.

 

Chuỗi thời gian xem xét tỷ suất tín dụng của công ty thường là 5 năm bao gồm hai năm về trước so hiện tại, dự báo năm hiện tại và cho hai năm tài chính dự báo tiếp theo. Có thể có những trường hợp dài hơn hoặc ngắn hơn tùy thuộc vào các yếu tố như khả năng tài chính, sự kiện chuyển đổi hoặc các vấn đề khác liên quan.

 

Ngoài tỷ suất tín dụng, PTR tiến hành phân tích các chỉ số hỗ trợ để có đánh giá đầy đủ hơn về rủi ro tài chính (company’s financial risk profile) và phân tích chi tiết hơn (fine-tune analysis) yếu tố rủi ro tài chính.

 

Phân tích rủi ro tài chính là sự bổ sung của phân tích rủi ro kinh doanh và là bước cuối cùng của nghiệp vụ Xếp hạng tín nhiệm đặt tất cả các phân tích vào quan điểm. Nó xác định điểm mạnh và điểm yếu trong hiệu quả hoạt động của chính doanh nghiệp. Nó xác định nghĩa vụ nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Cuối cùng, nó mô tả khả năng chịu được những cú sốc trong môi trường kinh doanh luôn biến động và khó lường. Nó bao gồm việc phân tích các tỷ lệ, nhưng không chỉ dừng ở sự so sánh các con số. Đó là tổng hợp việc đánh giá hiệu quả tài chính và các yếu tố rủi ro thành sự đánh giá có tính nhất quán về sự biến động của doanh nghiệp.

KHUNG XẾP HẠNG TÍN NHIỆM

KHUNG XẾP HẠNG TỔ CHỨC PHÁT HÀNH

khung xếp hạng tổ chức phát hành

Khung Xếp hạng tín nhiệm cho Tổ chức phát hành trải qua có 3 bước thực hiện cơ bản sau:

Rủi ro kinh doanh và Rủi ro tài chính được PTR kết hợp để xác định mức Đánh giá tín nhiệm tạm thời của doanh nghiệp. Đánh giá tín nhiệm tạm thời là cơ sở ban đầu, nhằm giúp xác định Mức xếp hạng tín nhiệm độc lập của doanh nghiệp (SACP).

 

Bảng Xác định kết quả xếp hạng tạm thời dưới đây sẽ áp dụng cho toàn bộ doanh nghiệp được xếp hạng, trừ các doanh nghiệp xếp ở mức ‘CCC +’, ‘CCC’, ‘CCC-‘ và ‘CC’.

kết quả xếp hạng tín nhiệm tạm thời

Đánh giá tác động từ đa dạng ngành nghề hoạt động

 

Tiêu chí nhằm mục đích đo lường tác động từ đa dạng ngành nghề hoạt động, có thể cải thiện đánh giá tín nhiệm tạm thời của một doanh nghiệp với nhiều ngành nghề kinh doanh như thế nào. Cách tiếp cận này giúp chúng tôi xác định mức độ tín nhiệm của một doanh nghiệp với các ngành kinh doanh cụ thể có thể cải thiện dựa trên tính đa dạng của nó.

 

Yếu tố vị thế cạnh tranh đánh giá lợi ích của sự đa dạng trong các ngành kinh doanh của từng công ty riêng lẻ. Yếu tố này cũng đánh giá cách các doanh nghiệp hoạt động kém trong một tập đoàn ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh tổng thể của tổ chức.

 

Đánh giá tín nhiệm tạm thời của PTR với doanh nghiệp có thể bị tác động bởi Mức độ đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, và thể hiện quan điểm của PTR về sự ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế lên hoạt động của doanh nghiệp.. Đánh giá này sẽ có tác động tích cực hoặc trung lập đối với đánh giá tín nhiệm tạm thời. Chúng tôi sẽ xem xét tất cả các yếu tố có khả năng ảnh hưởng tới sự hiệu quả của việc doanh nghiệp đa dạng hóa ngành nghề, bao gồm chất lượng của công tác quản lý và quản trị tổ chức. Chúng tôi đánh giá bất cứ yếu tố tiềm năng có thể làm suy yếu sự đa dạng hóa, bao gồm quản lý kém, trong đánh giá quản lý và quản trị của tổ chức.

 

Cấu trúc vốn

 

PTR đánh giá ảnh hưởng cấu trúc vốn thông qua 04 yếu tố, gồm có:

  • Rủi ro tiền tệ đi kèm theo khoản nợ.
  • Thời điểm đáo hạn các khoản nợ.
  • Rủi ro lãi suất.
  • Các khoản đầu tư.

 

Yếu tố về các khoản đầu tư có những ảnh hưởng đến rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Mặc dù không ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định về cấu trúc vốn, nhưng các khoản đầu tư sẽ cho biết mức độ an toàn và độ linh hoạt tài chính của tài sản.

 

Chính sách tài chính

 

Chính sách tài chính cải thiện quan điểm về rủi ro của doanh nghiệp vượt ra ngoài các kết luận phát sinh từ các giả định tiêu chuẩn trong đánh giá dòng tiền/đòn bẩy. Những giả định đó không phải lúc nào cũng phản ánh hoặc nắm bắt hoàn toàn rủi ro sự kiện ngắn hạn đến trung hạn hoặc rủi ro dài hạn, xuất phát từ chính sách tài chính của doanh nghiệp.

 

Phạm vi chuyển động một trong những yếu tố này, không thể được dự đoán một cách tự tin trong đánh giá về phía trước, chúng tôi nắm bắt rủi ro trong đánh giá chính sách tài chính. Đánh giá dòng tiền/đòn bẩy thường sẽ yếu tố trong hoạt động và số liệu lưu chuyển tiền tệ mà chúng tôi đã quan sát thấy trong hai năm qua và các xu hướng mà chúng tôi kỳ vọng sẽ thấy cho hai năm, dựa trên giả định hoạt động và các yếu tố chính sách tài chính có thể dự đoán được, chẳng hạn như thanh toán cổ tức thông thường hoặc chi tiêu mua lại định kỳ.

 

Khả năng thanh toán

 

Đánh giá khả năng thanh toán tập trung chủ yếu vào yếu tố dòng tiền, bao gồm: nguồn tiền và sử dụng tiền. Các nhà phân tích đánh giá khả năng vi phạm việc chi trả nợ trong trường hợp sụt giảm EBITDA, cùng với đó là khả năng ảnh hưởng khi xảy ra những sự kiện có tác động lớn, mối quan hệ với ngân hàng, tình trạng tín dụng và niềm tin của nhà phân tích vào hệ thống quản trị rủi ro tài chính của doanh nghiệp.

 

Dòng tiền được tính bên trong nguồn thanh toán hay sử dụng là dòng tiền được tạo ra hay tiêu dùng trong 06 tháng đến 24 tháng tới, với khung thời gian xác định cho mỗi thông báo thanh toán. Phân tích dòng tiền không bao gồm các nguồn và sử dụng tiền mặt từ hoạt động tài chính phụ thuộc.

 

Phân tích quản lý và quản trị bao gồm việc xem xét các điều sau:

Đánh giá M&G

Để đạt được điểm quản lý và quản trị tổng thể theo tiêu chí, trước tiên, chúng tôi áp dụng các số liệu để đánh giá các nhân tố trong các thành phần quản lý trong doanh nghiệp là tích cực, trung lập hoặc tiêu cực cho mỗi thành phần. Các tổng điểm của doanh nghiệp về quản lý và quản trị dựa trên đánh giá tập thể về các kết quả này, được điều chỉnh bởi đánh giá của các nhân tố trong hệ thống quản trị.

 

Các yếu tố tiềm tàng ảnh hưởng đến kết quả Xếp hạng (Comparable Rating Analysis)

 

PTR đánh giá các yếu tố xếp hạng tiềm tàng, phản ánh yêu cầu cần có những điều chỉnh trong kết quả xếp hạng . Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tiềm tàng là bước cuối cùng để xác định SACP của doanh nghiệp. Soát xét một cách tổng thể các vấn đề của doanh nghiệp để từ đó người phân tích có những đánh giá tổng hợp các đặc điểm đó.

Đánh giá tín nhiệm độc lập – SACP là một phần quan trọng của Xếp hạng tín nhiệm Công cụ nợ (Issue Rating) hoặc xếp hạng tín nhiệm Tổ chức phát hành (ICR).

 

SACP là một thành phần trong tổng thể quy trình chung Xếp hạng tín nhiệm nhằm cung cấp thông tin để đánh giá độ tín nhiệm của nhà phát hành. SACP là ý kiến của PTR về mức độ tín nhiệm của Nhà phát hành khi không có hỗ trợ hoặc gánh nặng bất thường.

 

Chỉ định SACP ở cấp Tổ chức phát hành thường không được áp dụng cho các nghĩa vụ cụ thể, ngoại trừ trong một số trường hợp khi Tổ chức phát hành không có ICR. Nhưng SACP có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các Xếp hạng trên các công cụ có thể trì hoãn (lai).

 

Trong khi sử dụng ICR để xếp hạng nợ không trì hoãn, sử dụng SACP làm cơ sở để xếp hạng các Công cụ lai, khi tin rằng có rất ít tiềm năng hỗ trợ đặc biệt hoặc sự can thiệp bất thường.

 

SACP được đo lường dựa trên thang điểm từ ‘AAA’ đến ‘D’. PTR nhấn mạnh rằng SACP chỉ là một thành phần cấu thành trong tổng thể quy trình Xếp hạng, chứ không phải là Xếp hạng tín nhiệm.

 

a. Đánh giá tác động từ công ty mẹ

 

Cụm từ “nhóm” và “các thành viên nhóm” đề cập đến công ty mẹ hoặc tổng công ty, và tất cả các doanh nghiệp mà công ty mẹ hoặc tổng công ty có quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp.

 

Thông thường, phạm vi hợp nhất giống như trong tài khoản được kiểm toán hợp nhất của công ty mẹ hoặc công ty mẹ cuối cùng, cộng với cổ phần tương ứng trong công ty liên doanh độc quyền hoặc được kiểm soát chung, mà chưa bao gồm trong các tài khoản hợp nhất.

 

Đánh giá tín dụng tổng thể của một nhóm sử dụng các phương pháp luận có liên quan để đánh giá các doanh nghiệp, tổ chức tài chính và công ty bảo hiểm hoặc các loại doanh nghiệp khác được áp dụng.

 

Đối với các tập đoàn (bao gồm cả các Holding Companies), phương pháp xếp hạng cụ thể là phương pháp có liên quan đến các hoạt động có ảnh hưởng mạnh nhất đến đánh giá của nhóm. Điều này có thể dựa trên số lượng vốn (chẳng hạn như khi các dịch vụ tài chính chi phối các hoạt động), hoặc thu nhập và cổ tức đóng góp cho Holding Companies (đối với các nhóm có hoạt động kinh doanh đáng kể). Đánh giá GCP không phản ánh tác động của các hoạt động khác về độ tin cậy của nhóm.

 

b. Chính sách của Nhà nước

 

PTR cho rằng doanh nghiệp nếu rơi vào tình trạng khủng hoảng, thì việc có được sự hỗ trợ bất thường từ Chính phủ có thể nâng cao năng lực và sự sẵn sàng để đáp ứng các cam kết tài chính khi đến hạn.

 

Yếu tố ảnh hưởng của chính phủ lên doanh nghiệp được xem xét trên hai khía cạnh. Trước tiên là khi doanh nghiệp gặp khủng hoảng có nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ để giúp cải thiện khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính tới hạn không. Khía cạnh thứ hai là khi chính phủ gặp khó khăn, doanh nghiệp có bị can thiệp theo cách thức tiêu cực hay không. Nếu doanh nghiệp thuộc một trong hai trường hợp vừa nêu, thì sẽ được phân loại là doanh nghiệp liên quan tới nhà nước, và được đánh giá tín nhiệm theo các tiêu chí dành riêng cho loại hình doanh nghiệp này.

 

Một doanh nghiệp được phân loại là doanh nghiệp liên quan tới chính phủ không nhất thiết phải thuộc quyền sở hữu hay kiểm soát của Chính phủ, song chúng tôi kỳ vọng mức độ hỗ trợ đối với các doanh nghiệp được sở hữu và kiểm soát bởi Chính phủ là nhiều hơn so với các doanh nghiệp liên quan tới chính phủ không có đặc điểm đó.

Đánh giá tín nhiệm độc lập (SACP) kết hợp với các kết luận đánh giá hỗ trợ để đưa ra xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp (ICR) chỉ định. Sau đó, các nhà phân tích xác định xem ICR chỉ định có bị giới hạn bởi xếp hạng quốc gia và đánh giá khả năng chuyển đổi ngoại tệ hay không. Phân tích cũng xem xét tới khả năng doanh nghiệp có thể nhận được kết quả xếp hạng cuối cùng cao hơn xếp hạng quốc gia và đánh giá khả năng chuyển đổi ngoại tệ, từ đó đưa ra ICR cuối cùng cho doanh nghiệp.

SƠ ĐỒ HỆ THỐNG QUY TRÌNH XẾP HẠNG TÍN NHIỆM TỔ CHỨC PHÁT HÀNH

QUY TRÌNH XẾP HẠNG TÍN NHIỆM BAN ĐẦU

QUY TRÌNH TỔNG QUAN XẾP HẠNG TÍN NHIỆM BAN ĐẦU

QUY TRÌNH XẾP HẠNG TÍN NHIỆM HẰNG NĂM

QUY TRÌNH TỔNG QUAN XẾP HẠNG TÍN NHIỆM HÀNG NĂM
×

SAIGON PHATTHINH Credit Rating công bố Biểu phí dịch vụ xếp hạng tín nhiệm